Chính sách thuế bảo vệ môi trường đối với hàng NK là túi ni lông Thuế tiêu thụ đặc biệt: Cần sửa đổi, bổ sung để phù hợp với thực tế Nộp 30% số tiền phí khai thác và sử dụng dữ liệu về môi trường thu được vào ngân sách
Bộ Tài chính giữ nguyên quy định áp dụng việc tính phí BVMT đối với khí thải cho các nhà máy nhiệt điện tại dự thảo nghị định. 	Ảnh minh họa: ST
Bộ Tài chính giữ nguyên quy định áp dụng việc tính phí BVMT đối với khí thải cho các nhà máy nhiệt điện tại dự thảo nghị định. Ảnh minh họa: ST

Đối tượng thu phí là cơ sở xả khí thải có thể kiểm soát được khí thải phát sinh

Ở nước ta, cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội, chất lượng môi trường không khí tại các thành phố lớn, một số khu công nghiệp, làng nghề đang ngày càng suy giảm, tác hại nghiêm trọng đến sức khoẻ cộng đồng, thiệt hại cho nền kinh tế, đe dọa tới môi trường. Hiện ô nhiễm môi trường không khí, nhất là tại các đô thị lớn đang có xu hướng ngày càng gia tăng, có thời điểm chất lượng ô nhiễm môi trường không khí ở mức báo động. Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là do hoạt động xả khí thải của các cơ sở xả thải và phương tiện giao thông vận tải.

Bộ Tài chính cho biết, hiện cả nước có khoảng 5,1 triệu xe ô tô và số lượng lớn xe máy đang lưu hành và có hàng chục khu tổ hợp, liên hợp trong đó tập trung nhiều dự án, loại hình sản xuất bauxite, gang thép, lọc hóa dầu, trung tâm điện lực, hàng ngày xả khối lượng lớn khí thải công nghiệp. Cùng với đó, có gần 120.000 cơ sở sản xuất công nghiệp, trong đó có 138 cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, chưa hoàn thành xử lý triệt để. Các cơ sở này phát sinh khối lượng lớn khí thải công nghiệp, bụi thải, tác động xấu đến môi trường.

Vì vậy, theo Bộ Tài chính, việc quy định thu phí BVMT đối với khí thải phải đảm bảo tính khả thi trong thực hiện, tính hiệu quả và phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội từng thời kỳ. Phí BVMT là chính sách thu phí mới. Việc xác định số phí BVMT phải nộp, kê khai, thẩm định số liệu khai phí là khó khăn, cần có quy định cụ thể về trách nhiệm của các chủ nguồn thải, cơ quan quản lý trong việc quan trắc môi trường của khí thải để làm cơ sở cho hoạt động khai, nộp phí BVMT đối với khí thải, đảm bảo công bằng, hợp lý, dễ dàng, thuận tiện cho người nộp phí và cơ quan quản lý thu phí.

Căn cứ quy định pháp luật về BVMT đối với khí thải, tình hình thực tế hoạt động quản lý khí thải hiện nay, tham khảo kinh nghiệm quốc tế, Bộ TN&MT đã xây dựng và đề xuất, Bộ Tài chính trình Chính phủ trước mắt quy định người nộp phí là các cơ sở xả khí thải mà pháp luật BVMT quy định có thể kiểm soát được khí thải phát sinh. Theo đó, quy định tại Điều 3 dự thảo Nghị định về đối tượng chịu phí và người nộp phí như sau: “Đối tượng chịu phí BVMT theo quy định tại Nghị định này là bụi, khí thải công nghiệp xả ra môi trường của các dự án, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ quy định tại cột (2) Phụ lục XXIX ban hành kèm theo Nghị định số 08/2022/NĐ-CP và thuộc đối tượng phải có giấy phép môi trường (gọi chung là cơ sở xả khí thải)”.

Chưa quy định thu phí đối với phương tiện giao thông

Về phương pháp tính phí, dự thảo Nghị định quy định phương pháp tính phí BVMT đối với khí thải như sau: Đối với cơ sở xả khí thải thuộc diện phải quan trắc khí thải (quan trắc thường xuyên, liên tục; quan trắc định kỳ), người nộp phí phải khai, nộp phí theo quý; số phí phải nộp được tính theo công thức F = f + C. Trong đó, F là tổng số phí phải nộp trong kỳ nộp phí (quý); f là phí cố định (750.000 đồng/quý, tương đương 3 triệu đồng/năm); C là phí biến đổi, tính theo quý (C = CBụi + CSOx + CNOx + CCO). Đối với cơ sở xả khí thải không thuộc diện phải quan trắc khí thải thì người nộp phí chỉ phải nộp phí cố định (3 triệu đồng/năm).

Góp ý cho dự thảo Nghị định, Tập đoàn Điện lực Việt Nam đề nghị không áp dụng việc tính phí BVMT đối với khí thải cho các nhà máy nhiệt điện. Lý do là các nhà máy nhiệt điện đang phải thực hiện đóng, nộp rất nhiều loại thuế, phí liên quan đến TNMT. Việc áp dụng thu phí BVMT đối với khí thải sẽ làm tăng chi phí sản xuất điện, cân đối tài chính của các nhà máy nhiệt điện. Hiện nay chưa có nhiều quốc gia áp dụng thu phí BVMT đối với khí thải mà chủ yếu là phí áp dụng đối với việc phát thải khí nhà kính.

Liên đoànThương mại và Công nghiệp Việt Nam thì cho rằng, mặt hàng xăng, dầu, than thuộc diện đối tượng chịu thuế BVMT. Dự thảo Nghị định đề nghị đánh phí đối với khí thải công nghiệp như bụi, CO, SOx, NOx. Như vậy, các cơ sở công nghiệp sử dụng than và xăng dầu để đốt cháy trong quá trình sản xuất sẽ tiếp tục phải đóng phí BVMT, trùng lặp với thuế BVMT cho cùng một hành vi.

Về vấn đề này, Bộ Tài chính cho rằng, theo quy định của Luật BVMT thì thuế BVMT và phí BVMT đối với khí thải là 2 khoản thu có tính chất khác nhau. Trong đó, thuế BVMT thu đối với sản phẩm, hàng hóa khi sử dụng gây ô nhiễm môi trường (xăng, dầu, than đá, túi nilong) nhằm hạn chế sử dụng sản phẩm, hàng hóa này. Còn phí BVMT đối với khí thải thu đối với bụi, khí thải thải ra gây ô nhiễm môi trường. Trường hợp cơ sở xả thải đầu tư công nghệ xử lý khí thải tốt, lượng khí thải thải ra ít gây ô nhiễm môi trường thì số phí phải nộp thấp hơn. Việc thu phí BVMT đối với khí thải sẽ khuyến khích DN đầu tư xử lý khí thải, góp phần hạn chế khí thải gây ô nhiễm môi trường. Đồng thời, điều 5 dự thảo Nghị định cũng quy định mức phí ưu đãi (giảm 25-50%) đối với trường hợp khí thải của cơ sở xả thải có hàm lượng thấp hơn hàm lượng quy định. Vì thế, Bộ Tài chính giữ nguyên như đề xuất tại dự thảo Nghị định.

Hiện các địa phương gồm Tây Ninh, Kon Tum, Đồng Tháp, Bắc Giang, Hà Tĩnh, Lạng Sơn, Đồng Nai, Sóc Trăng, Thanh Hóa đề nghị xem xét bổ sung phương tiện giao thông vào đối tượng chịu phí BVMT. Với đề xuất này, Bộ Tài chính cho biết, phí BVMT đối với khí thải là chính sách thu mới. Pháp luật chuyên ngành chưa xác định tổng khối lượng xả thải và hàm lượng từng chất gây ô nhiễm môi trường trong khí thải đối với phương tiện giao thông. Do đó chưa có cơ sở để xác định mức phí phải nộp đối với phương tiện giao thông. Cùng với đó, việc quy định thu phí khí thải đối với phương tiện giao thông không đảm bảo khả thi, đặc biệt là thu phí này đối với xe máy, bởi phần lớn xe máy là phương tiện thiết yếu của người có thu nhập thấp. Để đảm bảo tính khả thi, dự thảo Nghị định chưa quy định thu phí đối với phương tiện giao thông trong giai đoạn này.

Theo Dự thảo, tổ chức thu phí phải nộp toàn bộ số tiền phí BVMT thu được vào NSNN. Nguồn chi phí trang trải cho việc thực hiện công việc và thu phí do NSNN bố trí trong dự toán của tổ chức thu phí theo quy định. Trường hợp tổ chức thu phí được khoán chi phí hoạt động theo quy định tại khoản 3 Điều 1 Nghị định số 82/2023/NĐ-CP của Chính phủ thì được trích để lại 25% trên tổng số tiền phí thu được để trang trải chi phí cho hoạt động thu phí theo quy định, 75% số phí thu còn lại được nộp vào NSNN.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

sex

sex

sex

sex

sexviet88

sex

sex

SEX

SEX

SEX

SEX

SEX

SEX

SEX

SEX

SEX

SEX

SEX

english sexy vedeo indiantubetv.com forced indian sex video sextoon pornmovieswatch.org ishitha chauhan arab exposed analpornvids.info lesbian pussy licking video سكي اجنبى realarabporn.com افلام سكس مصرية 2018 bad romeo ep 7 pinoywebtv.com ang probinsyano may 4 2022
indian x tube themovs.mobi video bf xxxx jieitai kano chi nite, kaku tatakaeri hentaida.net hentaifox manga اكبر طيز supercumtube.com سكس مركب gma drama series superpinoy.net ang probinsyano july 11 2021 the broken marriage vow feb 11 2022 teleseryefullepisodes.com appeal in tagalog
the pollinic girls xhentaisex.com crazy 4 you hentai xxx muvie soloporntrends.com sexvediofreedownload tamil aunty sex photo desixxxhd.com indian prone sex apetube.com porn-tube-home.net naked girls desi hot fucked freepornfinder.info indianbhabi sex com